Tình hình thương mại tôm thế giới năm 2023

Tình hình thương mại tôm thế giới năm 2023
Ngày đăng: 08/09/2023 06:41 AM

Tình hình thương mại tôm thế giới trình bày về toàn cảnh thị trường tôm thế giới, tình hình sản xuất từ các nguồn cung lớn, diễn biến NK từ các thị trường tiêu thụ chính, dự báo về tình hình thương mại tôm toàn cầu trong nửa cuối năm 2023.

Tại Hội thảo quốc tế ngành tôm năm 2023 do VASEP tổ chức ngày 23/8 trong khuôn khổ Hội chợ Vietfish 2023, ông Willem van der Pijl, chuyên gia quốc tế hàng đầu trong ngành tôm, nhà sáng lập Shrimp Insights, đã có bài trình bày về toàn cảnh thị trường tôm thế giới, tình hình sản xuất từ các nguồn cung lớn, diễn biến NK từ các thị trường tiêu thụ chính, dự báo về tình hình thương mại tôm toàn cầu trong nửa cuối năm 2023.

Xuất khẩu

Kể từ năm 2016, XK tôm nước ấm toàn cầu tăng liên tục, chủ yếu do XK tăng mạnh từ Ấn Độ và Ecuador. Năm 2022, lượng XK tôm thế giới đạt trên 3 triệu tấn, tăng từ 1,8 triệu tấn năm 2015.

Ecuador: Từ 2012 đến nay, XK tôm của Ecuador liên tục tăng trưởng. Nếu Ecuador duy trì tốc độ như nửa cuối năm 2022 thì XK tôm của nước này năm 2023 sẽ đạt 1,15 triệu tấn. Nửa đầu năm nay, lượng tôm XK của Ecuador tăng 19% và dự kiến tốc độ tăng trưởng trong nửa cuối năm nay chỉ là 0%.

Tăng XK của Ecuador đang chậm lại từ đầu năm 2022 tới nay. Nửa cuối năm nay, sẽ không có sự tăng trưởng về sản xuất mạnh mẽ như so với cùng kỳ năm ngoái.

Ấn Độ: Tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) tôm chân trắng của Ấn Độ đạt 19%. Lượng tôm XK của Ấn Độ tăng trưởng liên tục từ 2013 đến 2019. XK tôm Ấn Độ giảm từ năm 2021, nguyên nhân có thể do dư cung.

NK tôm giống của Ấn Độ nửa đầu năm 2023 giảm 30%, dẫn tới sản lượng tôm vụ 1 giảm nên dự báo XK tôm sẽ giảm trong quý 3 năm nay.

Nửa đầu năm nay, XK tôm Ấn Độ tương đương cùng kỳ năm ngoái, lượng tôm XK nửa cuối năm nay dự kiến giảm 15% và lượng XK cả năm dự kiến đạt 633 nghìn tấn.

Indonesia: XK tôm của Indonesia tăng trưởng chậm hơn Ecuador và Ấn Độ. Từ 2014-2017, XK tôm của Indonesia đi ngang, dao động từ 173-178 nghìn tấn do dịch bệnh ảnh hưởng đến tăng trưởng. Từ 2018-2021, XK tăng trưởng liên tục với CAGR đạt 8% nhờ có các vùng nuôi mới, lượng XK năm 2021 đạt cao nhất hơn 241 nghìn tấn và có xu hướng giảm từ năm 2021 đến nay.

XK tôm chân trắng của Indonesia giảm 19% trong nửa đầu năm nay trong đó giảm 23% trong quý 1 và giảm 15% trong quý 2. Tổng lượng XK tôm của nước này trong nửa cuối năm 2023 dự kiến giảm 21%. Lượng tôm XK cả năm nay dự kiến đạt khoảng 184 nghìn tấn.

Nhập khẩu

Trung Quốc hấp thụ sản lượng tiêu thụ nhiều nhất trên toàn cầu. Trung Quốc tiêu thụ phần lớn sản lượng tôm tăng ở châu Á và Ecuador. Trung Quốc chủ yếu NK tôm loại HOSO.

Mỹ: Nửa đầu năm nay, NK tôm giảm 18%. Quý 2/2023, lần đầu tiên kể từ quý 1/2022, lượng NK tôm của Mỹ không bị giảm so với quý trước đó.

Sau nhiều năm tăng đều, NK tôm của Mỹ tăng vọt trong giai đoạn Covid nhờ doanh số bán lẻ tăng mạnh, sau đó giảm từ 2022do dư cung. NK tôm vào Mỹ dự kiến giảm 18% trong nửa cuối năm nay, bằng mức giảm nửa đầu năm nay, đạt khoảng gần 700 nghìn tấn.

Từ 2021- 2022, NK tôm thịt và tôm vỏ bỏ đầu giảm nhưng NK tôm chế biến GTGT tiếp tục tăng. Năm 2023, khối lượng NK các dạng sản phẩm tôm của đều giảm. Nửa đầu năm nay, khối lượng NK tôm thịt đông lạnh của Mỹ giảm 9%, NK tôm vỏ đông lạnh giảm 20%, NK tôm GTGT giảm 31%, NK tôm bao bột giảm 30% so với cùng kỳ năm ngoái.

Từ 2021-2022, Ecuador là nước duy nhất có khối lượng XK tôm sang Mỹ tăng. Năm 2023, tất cả các nước cung cấp đều bị giảm khối lượng XK tôm sang Mỹ. Nguồn cung tập trung chủ yếu ở top 4 nhà cung cấp gồm Ấn Độ, Ecuador, Indonesia và Việt Nam.

Về sản phẩm tôm NK của Mỹ, Mỹ NK 3 nhóm mặt hàng chính là tôm thịt đông lạnh, tôm vỏ đông lạnh và tôm chế biến GTGT.

Đối với sản phẩm tôm thịt đông lạnh, top các nguồn cung chính gồm Ấn Độ, Ecuador, Indonesia và Việt Nam. Ecuador có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ về cung cấp sản phẩm này cho Mỹ, Việt Nam có xu hướng giảm.

Đối với sản phẩm tôm vỏ đông lạnh, top nguồn cung gồm Ecuador, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam. Ecuador vẫn ghi nhận tăng trưởng tốt sản phẩm này sang Mỹ.

Đối với sản phẩm tôm GTGT, top nguồn cung gồm Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và Ecuador. Về nhóm sản phẩm này, Việt Nam có ưu thế cạnh tranh tốt hơn Ecuador trên thị trường Mỹ.

Trung Quốc: CAGR từ năm 2012 đến 2023 (không tính năm 2020-2021). NK tôm của Trung Quốc tăng liên tục từ 2012 đến 2019, chững lại trong 2 năm Covid 2020 và 2021. Từ 2022, Trung Quốc đang trở lại đà tăng trưởng NK trước Covid.

NK tôm của Trung Quốc tăng mạnh từ nửa cuối năm 2022 và tiếp tục tăng trong nửa đầu năm 2023.  Nửa đầu năm 2023, lần đầu tiên Trung Quốc đã nhập hơn 500 nghìn tấn tôm, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến động kinh tế toàn cầu, lạm phát, suy thoái, chiến tranh, dự báo tốc độ tăng trưởng NK tôm của Trung Quốc khó duy trì tăng trưởng như thời gian qua. Tăng trưởng NK của Trung Quốc trong nửa cuối năm nay dự báo đạt mức 0%, NK tôm cả năm nay của Trung Quốc có thể đạt trên 1 triệu tấn.

EU: NK tôm tăng từ 450.000 tấn năm 2012 lên 550.000 tấn năm 2022, chủ yếu NK tôm thẻ chân trắng. Năm 2022, 1/3 tôm GTGT NK vào EU có xuất xứ từ châu Á và Mỹ La tinh (khoảng 30.000 tấn). Tôm chân trắng chiếm 85%, tôm sú chiếm 10% và tôm biển chiếm 5%.

Từ 2012-2019, NK tôm của EU ghi nhận tăng trưởng chậm, sau đó tăng mạnh trong và sau Covid. Sau nhiều năm tăng trưởng chậm, NK tôm chân trắng của EU tăng vọt năm 2021 và 2022. NK tôm của EU tăng vọt năm 2022 dẫn đến dư cung và gây giảm giá NK. Nửa cuối năm 2023, dự kiến giảm 15%, cả năm 2023, lượng NK tôm của EU có thể đạt trên 290 nghìn tấn.

Các nước Nam Âu vẫn tiêu thụ nhiều nhất tôm chân trắng. EU chủ yếu tăng NK từ Nam Mỹ, nhưng cũng tăng từ châu Á. Sau sụt giảm giai đoạn 2018-2020, cả Việt Nam và Ấn Độ đều tăng XK tôm sang EU.

Nhật Bản: Khối lượng NK sụt giảm sau khi đạt mức đỉnh 300.000 tấn những năm đầu 2000 và có thể sẽ tiếp tục giảm nữa trong năm 2023.

NK tôm GTGT của Nhật Bản khá ổn định, nhưng NK tôm nguyên liệu đông lạnh giảm liên tục từ mức đỉnh 244.000 tấn năm 2014 xuống 144.000 tấn năm 2022

Nhật Bản NK tôm nguyên liệu đông lạnh chủ yếu từ Ấn Độ, Việt Nam và Indonesia. NK từ Ecuador không đáng kể nhưng có xu hướng tăng. Nhật Bản NK tôm GTGT chủ yếu từ Thái Lan, Việt Nam và Indonesia.

Cũng tại Hội thảo, ông Jesper Clausen - Giám đốc toàn cầu về dinh dưỡng và hỗ trợ thủy sản của Tập đoàn De Heus (Hà Lan), cho biết ước tính tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu năm 2023 sẽ đạt khoảng 6,3 triệu tấn, tăng 5% so với năm trước.

Theo lời khuyên của ông Jesper Clausen dành cho ngành tôm ở Việt Nam, thay vì để thị trường “dư thừa” nguồn cung khi XK giảm thì các doanh nghiệp có thể tập trung phát triển sản phẩm tươi và chế biến. Điều quan trọng bây giờ các DN ngành tôm Việt Nam cần tập trung vào tôm chất lượng cao với chi phí thấp. Các DN cũng cần tìm kiếm cơ hội thị trường trong nước để hỗ trợ ngành tôm Việt vượt qua khó khăn.

Ngoài ra, các chuyên gia quốc tế tại Hội thảo quốc tế ngành tôm do VASEP tổ chức cũng khuyến nghị ngành tôm Việt là cần tiếp tục tập trung vào tính bền vững và truy xuất nguồn gốc (như thức ăn, quản lý trang trại, quản lý dịch bệnh). 

Hơn thế nữa, nên tập trung vào tiếp thị ngành tôm Việt. Trên thực tế, ngành tôm Việt tốt hơn rất nhiều so với cảm nhận của nhiều nước châu Âu, cho nên khâu quảng bá cần nỗ lực hơn nữa. Bên cạnh đó, cần tăng cường tính hiệu quả ngay từ cấp vùng nuôi.

VASEP

Zalo
Hotline