Nhận diện cơ hội và thách thức của xuất khẩu tôm Việt Nam

Nhận diện cơ hội và thách thức của xuất khẩu tôm Việt Nam
Ngày đăng: 04/08/2023 09:17 AM

Tôm thẻ chân trắng. 

Kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam 6 tháng đầu năm 2023 sụt giảm 31,9% so với cùng kỳ năm 2022. Tuy nhiên ngành hàng này kỳ vọng sẽ có sự tăng trưởng trở lại khi yếu tố lạm phát, lượng hàng tồn kho được cho là sẽ có xu hướng giảm và nhu cầu tiêu thụ cho các kỳ nghỉ cuối năm tăng.

Năng lực chế biến đáp ứng nhu cầu

Theo Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, cả nước hiện có 374 cơ sở chuyên và có kết hợp chế biến tôm đủ điều kiện xuất khẩu tôm sang hơn 100 thị trường, với công suất trên 1,7 triệu tấn nguyên liệu/năm. Tập trung chủ yếu tại các tỉnh Nam Trung bộ (Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu), các tỉnh ĐBSCL (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang).

Sản phẩm chế biến đa dạng về mẫu mã và hình thức đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ. Cụ thể, sản phẩm đông lạnh truyền thống với nhiều dạng sản phẩm khác nhau: WHOLE, HLSO, PD, PUD, PTO, IQF, BLOCK…. Các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như tôm tẩm bột, tôm Nobashi, Sushi, Tempura… Một số phụ phẩm tôm giá trị gia tăng cao cấp: Chitin, chitosan, glucosamine, astaxanthin… Các sản phẩm khô, tươi sống chiếm khoảng 10%.

Trong 6 tháng đầu năm 2023, tôm Việt Nam đã xuất khẩu sang 84 thị trường trên thế giới, với kim ngạch đạt hơn 1,5 tỷ USD, giảm 31,9% so với cùng kỳ năm 2022 và bằng 35,9% so với kế hoạch 2023 (4,3 tỷ USD). Riêng trong tháng 6/2023, xuất khẩu tôm đạt 328,9 triệu USD, giảm 20,9% so với cùng kỳ năm 2022.

Nguyên nhân suy giảm là do suy giảm kinh tế toàn cầu, nhu cầu tiêu thụ chậm. Lạm phát và lãi suất tăng cao tại Mỹ, EU, Hàn Quốc. Tồn kho nhiều, các nhà nhập khẩu ráo riết giải phóng hàng tồn. Các nước Indonesia, Ecuador thu hoạch sớm tôm với sản lượng và kích cỡ tôm cạnh tranh với tôm Việt Nam.

Dự báo trong các tháng cuối năm 2023 yếu tố lạm phát, lượng hàng tồn kho sẽ có xu hướng giảm và nhu cầu cho các kỳ nghỉ cuối năm tăng sẽ giúp kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung, mặt hàng tôm nói riêng sẽ tăng trở lại tại các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc…

Nhận diện cơ hội và thách thức

Việt Nam có tiềm năng rất lớn về diện tích, khí hậu thuận lợi và nguồn nước dồi dào cho phát triển nuôi tôm nước lợ. Sản phẩm tôm chất lượng (size lớn, chất lượng ngon…). Ngành tôm nước lợ được ứng dụng khoa học công nghệ mới, gồm kỹ thuật sản xuất giống, nuôi thương phẩm và bảo quản chế biến với nhiều mô hình ứng dụng khoa học công nghệ ở nhiều mức độ khác nhau. Các doanh nghiệp chế biến tôm với trình độ nhân lực, kỹ thuật khéo léo trong nuôi tôm và chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng.

Tuy nhiên cũng một số điểm yếu như: Hạ tầng vùng nuôi hạn chế, quy mô nông hộ nhỏ bé khiến hạ tầng nguồn nước cấp, nước thoát nước chưa đồng bộ, gây khó khăn trong công tác sản xuất và nguy cơ ô nhiễm và dịch bệnh. Chi phí sản xuất tôm còn cao so với các nước đối thủ trên cùng phân khúc thị trường.

Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cũng đưa ra những đánh giá về cơ hội đối với ngành tôm Việt Nam như: Thị trường tiêu thụ rộng mở do nhu cầu gia tăng; các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký với các nền kinh tế lớn là cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu; quỹ đất nuôi tôm lợ một số vùng ven biển tạo cơ hội quy hoạch vùng nuôi tập trung theo hướng ngành hàng sản xuất; năng lực về khoa học công nghệ, nhân lực và các điều kiện tự nhiên khác khiến Việt Nam có đầy đủ các nhân tố để có thể tiếp tục phát triển ngành tôm theo hướng quy mô hiện đại, bền vững.

Song bên cạnh đó,  ngành tôm nước ta cũng còn phải đối mặt với nhiều thách thức như: Biến đổi về khí hậu, nước biển dâng gây nguy cơ mất diện tích nuôi tôm ven biển; El Nino gây ra nắng nóng, bão lũ làm thay đổi đột ngột nhiệt độ, lượng mưa, độ mặn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển tôm nuôi, góp phần gây ra dịch bệnh cho tôm nuôi. Các yếu tố về dịch bệnh, đặc biệt là bệnh do vi bào tử trùng khiến tỷ lệ nuôi thành công ở Việt Nam bị suy giảm nghiêm trọng, điều này đặt ra thách thức trong quản lý dịch bệnh theo hướng quản lý rủi ro trong toàn bộ chuỗi sản xuất từ tôm bố mẹ, tôm giống, ương dèo và nuôi thương phẩm để kiểm soát được rủi ro đến mức độ chấp nhận được.

Giải pháp bền vững

Ông Lê Thanh Hòa, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cũng đã đề xuất một số giải pháp để ngành tôm phát triển bền vững.

Cụ thể, Bộ NN&PTNT cần đẩy mạnh phát triển nuôi tôm và các khâu trong chuỗi sản xuất tôm theo hướng công nghệ cao. Tổ chức sản xuất theo hướng liên kết, sản xuất có chứng nhận (VietGAP, GlobalGAP, ASC) để nâng cao chất lượng, giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm tôm trên thị trường thế giới.

Tập trung ứng dụng khoa học công nghệ mới để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường. Phát triển nuôi tôm và các khâu trong chuối sản xuất theo hướng công nghệ cao để giảm lao động trực tiếp, hạn chế lây lan dịch bệnh.

Cập nhật và thông tin kịp thời các quy định thị trường, tháo gỡ các rào cản thương mại thúc đẩy xuất khẩu. Nắm bắt, tận dụng tối đa các cơ hội thúc đẩy xuất khẩu tôm vào các thị trường mà Việt Nam đã ký kết hiệp định thương mại tự do (Hiệp định EVFTA, CPTPP, UKVFTA). Kịp thời hỗ trợ sản xuất theo nhu cầu thị trường.

Nghiên cứu, xây dựng trình ban hành Nghị định quản lý về thương hiệu nông sản, trong đó có sản phẩm tôm. Ngân hàng Nhà nước đảm bảo nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp nuôi, chế biến và xuất khẩu tôm.

Bộ Công Thương đẩy mạnh đàm phán ký kết hiệp định thương mại để đa dạng hóa thị trường sản phẩm. Hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các cam kết, khai thác các cơ hội từ các hiệp định. Ưu tiên nguồn lực xúc tiến thương mại mở rộng thị trường, kết nối giao thương thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm tôm. Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu, quy định thị trường để Bộ NN&PTNT định hướng phát triển thị trường sản phẩm tôm. Tăng cường kết nối giao thương doanh nghiệp thúc đẩy xuất khẩu.

Hải Đăng (Tổng Cục Thủy Sản)

Zalo
Hotline